sukiensuckhoehangtuan.com

Bài viết 01/2017

Cao huyết áp ác tính - Phần 2

Yếu tố nguy cơ nào gây ra cơn cao áp ?
- Cơn cao áp ác – tính thường xảy đến ở bệnh nhân mắc chứng cao – áp mãn tính và dao động bị bỏ phế không điều trị nhưng lại sử dụng vô điều độ những chất kích thích giao cảm như rượu, thuốc lá…
- Những người đang được điều trị dài hạn bằng các thuốc hạ áp có tác dụng trung ương như Clonidine (Catapressan), Methyldopa (Aldomet) và thuốc chện bêta gioa cảm (Propranolol) nhưng ngưng thuốc đột ngột bất chấp lời khuyến cáo của thầy thuốc.
- Ngoài ra huyết áp còn có thể tăng vọt khi bệnh nhân bị viêm bể thận cấp (Pyelonephritis), u tủy thượng thận (pheochromocytoma), xuất – huyết dưới màng cứng do chấn thương sọ não, tình trạng kích xúc (stress), gắng sức quá mức khi giao hợp, phỏng nặng cấp II và III, cơn giận nộ khí xung thiên và ngay cả hắt hơi liên tục…
- Hiếm hơn, cơn cao áp có thể xảy ra ở những người mắc bệnh thể keo ở mạch máu (vascular collagen disease) như viêm nút quanh động mạch (Nodasa Periarteritis).
Thấy những tín hiệu gì trên lâm sàng ?
Đột nhiên nạn nhân cảm thấy hồi hộp, đánh trống ngực (loạn nhịp tim nhanh), nhức đầu dữ dội, da mặt tái xanh, khát nước không kìm được, buồn nôn hay ói vọt, tay chân lạnh có cảm giác kiến bò. Họ rơi vào tình trạng hoảng loạn và luôn miệng than “chết tới nơi !”. Khi huyết áp bắt đầu hạ, mồ hôi đổ tháo, đôi khi nạn nhân thở rất khó, khác ra nhiều bọt màu hồng : đó là những tín hiệu báo cơ phù phổi cấp. Trong tạp chí bệnh tim mạch ở Hoa Kỳ, tác giả Schottataedt đã cho đăng một phúc trình nghiên cứu tổng số 104 trường hợp cao Huyết Áp ác tính và đã công bố kết quả dưới đây :
- Triệu chứng cao huyết áp :
+ Rối loạn thị giác : 79 trường hợp
+ Nhức đầu dữ dội : 6 trường hợp
+ Đái – huyết : 5 trường hợp
+ Rối loạn thì giác và đái huyết : 3 trường hợp
+ Suy tim cấp : 1 trường hợp
+ Ói mửa : 1 trường hợp
+ Triệu chứng không rõ : 9 trường hợp
Tiên lượng ra sao ?
Tiên lượng sẽ rất xấu nếu cao huyết áp ác tính kèm theo phù phổi cấp, suy thận với tăng cao urê huyết, bệnh não cao áp với những cơn co giật liên tục, nhồi máu cơ tim kèm theo choáng do tim.
Còn  mục đích điều trị ?
Thuộc loại điều trị khẩn cấp. Nếu bệnh nhân đã được bác sĩ xác định là cao huyết áp từ trước thì cho uống ngay thuốc trị huyết áp đang dùng để hạ bớt huyết áp xuống, trong khi đưa đến bác sĩ. Hạ nhanh huyết áp tâm trương < 95 mmHg là cái đích lý tưởng nhất cho thầy thuốc lâm sàng. Sau đó bệnh nhân phải thường xuyên uống thuốc trị huyết áp cao do bác sĩ chỉ định.
BS. Nguyễn Vĩnh Lộc – Thuốc & sức khỏe – Số 51 (01-09-1995)

Chính sách quốc gia về thuốc - Phần 2

Căn cứ cơ bản để làm các công việc trên đây là đường lối chung của Đảng và Nhà nước, và mọi người đều phải hiểu rõ. Thế nào là cơ chế thị trường, sự tham gia của các thành phần kinh tế ra sao, ở mức độ nào, thực hiện sự quản lý nhà nước sao cho vừa chặt chẽ, vừa tạo điều kiện cho các loại hình hoạt động được thuận lợi. Nhất thiết phải xác định rõ nội dung của “định hướng xã hội chủ nghĩa, trong ngành dược. Đừng e ngại những người hoạt động trong ngành dược làm giàu một cách chính đáng, trong khuôn khổ dân giàu nước mạnh, miễn thực hiện cho được công bằng xã hội. Huống chi với non một vạn người bán lẻ, vài trăm người bán buôn theo kiểu cách hiện nay, chưa có ai nổi bật trong sản xuất và phân phối thuốc, thì chớ vội quá băn khoăn. Mà cũng cần qui định những điều kiện bán buôn và bán lẻ, dành ưu tiên chủ yếu cho dược sĩ là những cán bộ khoa học ký thuật trình độ đại học được đào tạo đặc biệt để gánh lấy trách nhiệm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người sử dụng thuốc. Phải công nhận là lâu nay không phải ngành dược không có chủ trương, không đề ra được những quy chế. Vấn đề chủ yếu là vì những chủ trương quy định hiện có không được ban hành có hệ thống, với một yêu cầu chấp hành chặt chẽ, nên sự thông hiểu có sai biệt, và việc thực hiện thiếu nghiêm túc, lại có những sơ hở bị lợi dụng, nên tình hình lộn xộn đã xảy ra. Và cán bộ dược, người tiêu dùng, bộ máy y tế và cả nhân dân… đều thấy có yêu cầu bức thiết phải có chính sách là như vậy. Yêu cầu của chính sách là phải tổ chức lại ngành sao cho hợp lý, cả trong khu vực nhà nước lẫn trong khu vực ngoài quốc doanh, phải xác định rõ nội dung đẩy mạnh sản xuất trong nước, kể cả bằng vốn nội địa lẫn liên doanh mà không để nhập khẩu gây tác hại, phải có mạng lưới và phương thức phân phối thích hợp, có sử dụng mọi thành phần kinh tế, và đảm bảo quyền tự chủ của đất nước, phải phát triển được dược học cổ truyền trong nghiên cứu khoa học, trong sản xuất và xuất khẩu, phải đưa đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ. Có chính sách hợp lý, được thực hiện đúng đắn và nhuần nhuyễn nhất định thuốc men, và ngành dược sẽ đảm nhận một cách xứng đáng vai trò của mình trong sự nghiệp bảo vệ sức khỏe của nhân dân Việt Nam.
PV – Thuốc & sức khỏe – Số 50 (15-08-1995)

Chính sách quốc gia về thuốc - Phần 1

Thuốc chữa bệnh, có hiệu nghiệm cao, được cung cấp kịp thời, với chất lượng đảm bảo, và thỏa mãn nhu cầu cơ bản của dân, đem lại sức khỏe và cuộc sống hạnh phúc cho mọi người, điều mà bất cứ quốc gia nào cũng phải quan tâm. Muốn đạt được điều này, trong một nước, không thể không có một chính sách toàn diện và đồng bộ về thuốc. Không có sự chăm lo của nhà nước, qua sự diễn biến muôn màu muôn vẻ của cuộc sống, chính sách cũng tự phát, mà khi cơ quan chuyên trách của nhà nước không chủ động, để kéo dài, sẽ phải đối phó với nhiều khó khăn, và có khi phải trả giá rất đắt. Tất nhiên để có tác dụng như mong muốn, chính sách phải phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của đất nước. Như vậy, chỉ có người trong nước vốn am hiểu tường tận, thấm nhuần sâu sắc những điều kiện đó, mới có thể xây dựng chính sách thuốc của nước mình, dù có khó khăn, cũng không thể chờ đợi hay mong chờ sự giúp đỡ của bất cứ chuyên viên nào của nước ngoài. Rất có thể có những chuyên viên ngoại quốc có nhiều kiến thức và kinh nghiệm, nhưng họ cũng chỉ có thể chia sẻ kinh nghiệm và phương pháp. Chính những cán bộ dược, được tôi luyện trong thử thách, có nhận thức, ý thức cao, tầm nhìn rộng, nhiệt tình nhiều, mà nước ta không thiếu, là những người phải đứng ra đảm nhận trọng trách. Và điều quan trọng là phải bắt tay ngay vào việc như hiện nay đang xúc tiến. Đúng là công việc rất lớn và rất nặng. Chưa làm hay chậm làm thì có khi e ngại, và không phải không có khó khăn. Nhưng nên quan niệm chính sách không phải điều gì quá mới mẻ, chưa từng có ở đất nước ta, đòi hỏi phải có một sự phát minh đặc biệt. Hiện nay một chính sách không thành văn đang tồn tại và phát triển, bao gồm một mặt nhưng chủ trương từng lúc và từng việc của nhà nước, của ngành, của cơ quan chuyên trách, mặt khác, những công việc và những tập quán tự nảy sinh ra trên tình hình thực tế, và được đặc nhiên công nhận. Xây dựng chính sách và sưu tầm tập hợp những quy định hợp pháp, và tự phát hiện hành, giữ lại sử dụng những điều thích hợp, loại bỏ những điều không đúng hoặc không cần thiết, bổ sung những điều xác đáng theo yêu cầu bức thiết hiện nay, đồng thời kết hợp mọi điều lại thành một thể thống nhất, đồng bộ và có hệ thống.
PV – Thuốc & sức khỏe – Số 50 (15-08-1995)

Giấc ngủ đầy mộng mị

Hỏi : Tôi năm nay 35 tuổi, sức khỏe bình thường ban đêm ngủ hay thấy chiêm bao những chuyện rất là dị dạng, nào là sinh đẻ, chết chóc, sông nước, chùa chiền,… Thường sau cơn mê, tỉnh dậy rất mệt, như vậy có phải bệnh không ? Xin thuốc & sức khỏe cho biết đó là bệnh gì ? Có nguy hiểm không ? Nếu bệnh, điều trị thế nào và ở đâu ? (Huỳnh Thị Lan – Thủ Thừa)
Đáp : Giấc ngủ được chia làm nhiều chu kỳ tiếp nối nhau, trong đó có các giai đoạn ngủ sâu và ngủ không sâu. Trong các giai đoạn ta đều có giấc mơ hay còn gọi là chiêm bao. Những giấc mơ thức dậy còn nhớ được thường xảy ra trong giai đoạn giấc ngủ sâu. Người ta đã tính, trung bình trong 7 lần mơ thì có 1 lần mơ lành, 3 lần mơ dữ còn 3 lần khác không rõ rệt. Như vậy, thỉnh thoảng gặp cơn ác mộng, thì không việc gì. Người ta tìm thấy rằng, nếu trong khi mơ mà giật mình thức dậy hay thức giấc trong vòng 10 phút sau giấc mơ thì nhớ rõ giấc mơ. Ngược lại nếu thức giấc trễ hơn 10 phút sau giấc mơ thì không nhớ được giấc mơ hoặc không biết rằng mình đã mơ. Do đó những ai thường bị mất ngủ hoặc có ngủ chập chờn thì thường gặp giấc mơ. Nếu bạn thường gặp ác mộng hoặc mộng mị dị thường thì bạn nên ăn nhiều rau quả tươi (mỗi ngày : 200g rau lá, 100g củ quả và 200g quả chín tươi) thì sẽ khỏi. Nếu vẫn còn thì uống mỗi ngày 50mg sinh tố B6 trong vài ba tuần lễ.
Thức ăn bổ máu
Hỏi : Đọc bài thiếu máu dinh dưỡng ở nhũ nhi trên thuốc & sức khỏe số 46, em có một cháu đầu lòng 10 tháng tuổi thấy có triệu chứng giống như bị thiếu máu nêu trong bài. Em lo quá, xin cho biết em phải cho cháu uống thuốc gì, ăn món gì để bổ máu ? (Kim Mai – Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh)
Đáp : Bạn nên đọc lại bài “Ăn dặm” (thuốc & sức khỏe số 45) để biết cách cho trẻ ăn dặm tránh suy dinh dưỡng. Trong trường hợp bạn không có số báo này thì viết thư về, Tòa soạn sẽ gửi cho bạn bản sao bài ấy. Bạn cũng có thể hàng ngày cho cháu dùng các loại sữa bột mà công thức có bổ túc sắt (Fe) và các sinh tố khoáng chất khác như sữa GAIN chẳng hạn. Sau khi cho trẻ uống, cần cho uống thêm nước cam, chanh, bưởi để giúp trẻ hấp thụ được chất sắt dễ dàng hơn.
DS. Diệu Phương – Thuốc & sức khỏe – Số 47 (01-07-1995)

Lá xa kê

Hỏi : Lá xa kê có tác dụng lợi tiểu thì dân gian đã biết và thường dùng, nhưng không biết nên dùng lá tươi còn trên cây hay lá đã rụng dưới đất ? (Bùi Thị Tứ - Đồng Tháp)
Đáp : Hiện nay rất nhiều người dùng lá xa kê để làm thuốc lợi niệu. Tất cả những người dùng mà tôi được biết, đều dùng lá xa kê đã rụng, nghĩa là đã trở thành màu vàng, mất hết màu xanh lá, và tất cả đều nói là có tác dụng lợi niệu tốt. Đi xin lá xa kê rụng thì chủ nhà thêm cảm ơn vì đỡ phải quét dọn. Dùng thảo dược được để làm thuốc lợi niệu thì mau lờn thuốc. Thông thường, chúng tôi chỉ dùng trong 5 ngày rồi phải đổi sang vị khác. Nhiều bệnh mãn tính phải dùng thuốc lợi niệu nhiều ngày, do đó phải đổi thuốc, quay lại dùng các vị đã dùng vẫn thấy hiệu nghiệm. Chúng tôi đã dùng lá xa kê tươi, lá già, nghĩa là đã có màu xanh thẫm thì có thể dùng đến hơn 15 ngày vẫn còn tác dụng. Lá xa kê đã vàng và rụng thì các chất hữu cơ bị tiêu gần hết, còn lại các chất vô cơ như kali có tác dụng lợi niệu. Có thể nhờ đó mà chúng tôi dùng lá tươi được vài ngày vẫn còn tác dụng. Chúng tôi đã dùng trong các chứng đau đây, đều có kết quả lợi niệu tốt : Chứng phù trong bệnh gan mãn, đau thận mãn, suy tim, chứng cao huyết áp. Mỗi ngày dùng một lá, thái nhỏ, nấu hoặc cho vào bình thủy chế nước sôi, rót lấy nước uống khi khát, nếu muốn uống với lượng nước ít thì dùng 2 đến 3 lá to nấu với 1 lít nước, nấu sắc còn khoảng 100ml để uống. Nếu cần làm sẵn để dùng thì nên sao nóng rồi phơi khô. Nước sắc lá xa kê dễ uống, có vị chát nhẹ như nước trà loãng, không có độc. Cây xa kê, tên La tinh Artocarpus incisa, họ Gai (urticaceae), người pháp gọi là cây bánh mì. Mỗi trái có bột khoảng 400 gam. Đặc biệt là bột này có thể ăn đến no (thay cơm) mà không chán như khoai lang hay khoai mì. Do đó có tên là arbre à pain, Bread tree. Nếu muốn trồng cây xa kê thì cần chú ý, có 2 loại :
- Loại xa kê hột, có nhiều hột như hột mít người Pháp gọi là xa kê giả (faux arbre à pain). Loại này cũng dùng lá để làm thuốc lợi niệu. Hột thì ăn không ngon. Người bán cây xa kê con thì bán loại này vì dễ ươm.
- Đã tốn công, tốn đất trồng thì nên trồng loại trái không hột, vừa dùng lá vừa có trái ăn. Trong hột xa kê có :
+ 1,10 đến 2,76% chất đạm.
+ 0,2 đến 0,9% chất mỡ.
+ 64,04 đến 84% chất bột và đường.
Vì thế, ăn hột xa kê ngon và không chán. Cây xa kê ưa nước, những cây trồng gần sông rạch thì rất tốt, đường kính ở gốc đến 50cm. Ở thành phố cũng có nhiều nơi trồng để có bóng mát và có trái ăn.
BS. Huỳnh Ngọc Tựng – Thuốc & sức khỏe – Số 47 (01-07-1995)

Thành phần dinh dưỡng trong thịt cóc

Hỏi : Thịt cóc có bổ dưỡng hơn các thịt khác không, mà người ta dùng để điều trị cam tích cho trẻ em. (Lý Thị Ba – Nha Trang.)
Đáp : Thịt cóc bổ dưỡng, nên Đông Y thường dùng để làm thuốc chữa bệnh cam tích cho trẻ em. Nhận định :
- Protein : Hàm lượng protein trong thịt cóc tương đối cao (53,16% tính theo trọng lượng khô), nhưng chưa bằng thịt heo lạc, thịt gà, thịt bò.
- Yếu tố vi lượng :
+ Sắt : Hàm lượng sắt trong thịt cóc rất cao (65mg/100g), cao gấp 11 lần hàm lượng sắt trong thịt heo lạc, cao gấp 7 lần hàm lượng sắt trong thịt gà, cao gấp 5 lần hàm lượng sắt trong thịt bò. Sắt tham gia vào quá trình cấu tạo máu. Ở Việt Nam, bệnh thiếu máu thường gặp là thiếu máu dinh dưỡng do sắt.
+ Kẽm : Hàm lượng kẽm trong thịt cóc rất cao (9,75mg/100g) hơn hẳn hàm lượng kẽm trong thịt ếch, nhộng tằm, thịt heo, thịt gà và chỉ thấp hơn thịt bò. Kẽm là nguyên tố vi lượng cần thiết cho sự sống. Một khẩu phần ăn cung cấp hàng ngày từ 0,17 – 0,25mg/kg thể trọng. Kẽm tham gia cấu tạo nhiều enzym, hormon và vitamin, nên có ảnh hưởng rất lớn trong sự tạo máu, sinh sản tăng trưởng của cơ thể. Kẽm còn tham gia chuyển hóa các Lipid, protid, glucid, và các quá trình oxid – khử và chuyển hóa năng lượng. Ở người ăn chế độ thiếu kẽm, nhận thấy có triệu chứng lùn, thiếu máu và thiếu khả năng sinh dục. Ở trẻ Kwashiorkor, hàm lượng kẽm trong huyết tương thấp. Hàm lượng kẽm trong tóc của trẻ suy dinh dưỡng thấp hơn hàm lượng kẽm của trẻ bình thường. Bổ sung kẽm trong khẩu phần ăn cho trẻ suy dinh dưỡng có tác dụng rõ rệt đối với khả năng tiêu hóa, hấp thu và tình trạng dinh dưỡng của trẻ.
+Mangan : Hàm lượng Mangan trong thịt cóc cao (2,82mg/100g) cao hơn thịt ếch (1,82mg/100g), cao gấp 4 lần hàm lượng mangan trong nhộng tằm, cao gấp 20 lần hàm lượng mangan trong thịt heo lạc, cao gấp 71 lần hàm lượng mangan trong thịt gà. Mangan có ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và chuyển hóa, đặc biệt đối với quá trình phát triển của xương.
+ Đồng : Hàm lượng đồng trong thịt cóc (0,20mg/100g), tương đương với hàm lượng đồng trong thịt ếch, thịt gà, cao hơn lượng đồng trong thịt lợn và thịt bò. Đồng là thành phần cần thiết cho khẩu phần ăn bình thường do thức ăn đưa vào cơ thể hàng ngày từ 0,033 – 0,05 mg trên kg thể trọng. Đồng tham gia vào quá trình oxid – hóa khử, chuyển hóa lipid và glucid. Đồng còn tăng khả năng miễn dịch và sức đề kháng của cơ thể.
+ Chất khoáng : Hàm lượng Na, K, Ca, Mg trong thịt cóc đều cao. Calci giữ vai trò hình thành và phát triển xương. Kali có tác dụng tốt trong điều trị suy dinh dưỡng năng lượng nặng.
Kết luận : Thịt cóc là một thức ăn bổ dưỡng có hàm lượng protein tương đối cao, chứa nhiều chất khoáng và các yếu tố vi lượng khác cần thiết cho cơ thể. Thịt cóc không chỉ là loại thức ăn, mà còn là một loại thuốc dùng điều trị suy dinh dưỡng protein – năng lượng. Y học cổ truyền sử dụng thịt cóc để điều trị bệnh cam tích ở trẻ em (bệnh suy dinh dưỡng protein – năng lượng) là có cơ sở khoa học.
TS. Phạm Tú Vinh – Thuốc & sức khỏe – Số 47 (01-07-1995)